Công văn số 2079/TCT-DNNCN ngày 20/5/2020 về triển khai thực hiện chức năng quản lý các khoản thu từ đất

– Tại Khoản 7 Điều 3 Nghị định số 123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017 của Chính phủ sửa đổi Khoản 1 Điều 21 Nghị định 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

“Điều 21. Trình tự, thủ tục miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước

2. Căn cứ vào hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều này, cơ quan thuế xác định và quyết định số tiền thuê đất, thuê mặt nước được miễn, giảm; cụ thể:

a) Cục trưởng Cục thuế ban hành quyết định miễn, giảm đối với tổ chức kinh tế; tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê đất;

b) Chi cục trưởng Chi cục thuế ban hành quyết định miễn, giảm đối với hộ gia đình, cá nhân thuê đất.”

Căn cứ các quy định trên, Cục Thuế có nhiệm vụ xác định đơn giá thuê đất để tính tiền thuê đất và ban hành quyết định số tiền sử dụng đất, số tiền thuê đất thuê mặt nước được miễn, giảm đối với tổ chức kinh tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Chi cục thuế có nhiệm vụ xác định đơn giá thuê đất để tính tiền thuê đất, ban hành quyết định số tiền sử dụng đất, số tiền thuê đất, thuê mặt nước được miễn, giảm đối với hộ gia đình, cá nhân và quản lý thu về lệ phí trước bạ, các khoản đấu giá về đất, tài sản, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên,…

    Hỗ trợ giải đáp




    Trả lời
    error:
    GỌI ĐIỆN NGAY 0937967242