Trong bối cảnh tình hình địa chính trị tại khu vực Trung Đông tiếp tục diễn biến phức tạp và căng thẳng, đặc biệt là xung đột liên quan đến Mỹ, Israel và Iran, thị trường năng lượng thế giới đang đối mặt với những rủi ro lớn. Eo biển Hormuz – tuyến đường vận chuyển chiến lược chiếm phần lớn lượng dầu thô từ Trung Đông ra thế giới – đang bị đe dọa gián đoạn nghiêm trọng. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực châu Á, nơi phụ thuộc nặng nề vào nguồn cung dầu thô từ khu vực này, dẫn đến nguy cơ thiếu hụt nguồn cung và biến động giá xăng dầu mạnh mẽ.

Để bảo vệ nguồn cung xăng dầu trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp chủ động đa dạng hóa nguồn nhập khẩu (đặc biệt từ các thị trường không yêu cầu chứng nhận xuất xứ – C/O), đồng thời góp phần kiểm soát giá bán lẻ, ổn định kinh tế – xã hội, Chính phủ Việt Nam đã nhanh chóng ban hành biện pháp hỗ trợ.
Ngày 09/03/2026, Chính phủ chính thức ban hành Nghị định số 72/2026/NĐ-CP sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) đối với một số mặt hàng xăng, dầu và nguyên liệu sản xuất xăng dầu. Nghị định này sửa đổi, bổ sung Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Nghị định số 26/2023/NĐ-CP ngày 31/5/2023 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan.

Mục tiêu chính của chính sách này là:
- Giúp các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu (như Petrolimex, PVOIL, các tổng công ty xăng dầu lớn) chủ động hơn trong việc tìm kiếm nguồn cung thay thế.
- Giảm chi phí nhập khẩu, từ đó hỗ trợ bình ổn giá bán lẻ xăng dầu trong nước.
- Tránh tình trạng thiếu hụt nguồn cung cục bộ hoặc tăng giá đột biến do gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu.
Các mặt hàng được giảm thuế nhập khẩu ưu đãi về 0% (áp dụng tạm thời) bao gồm:
- Xăng động cơ không pha chì (mã HS 2710.12.21 – Chưa pha chế; 2710.12.22 – Pha chế với ethanol; 2710.12.24 – Chưa pha chế; 2710.12.25 – Pha chế với ethanol): Giảm từ 10% xuống 0%.
- Nguyên liệu pha chế xăng như naphtha, reformate (mã HS 2710.12.80): Giảm từ 10% xuống 0%.
- Nhiên liệu diesel (cho ô tô và các loại khác), dầu nhiên liệu, nhiên liệu động cơ máy bay (nhiên liệu phản lực), kerosine: Giảm từ 7% xuống 0%.
- Một số nguyên liệu hóa dầu như xylen, condensate, p-xylen: Giảm từ 3% xuống 0%.
- Hydrocarbon mạch vòng loại khác: Giảm từ 2% xuống 0%.
Ngoài ra, theo một số nguồn, các mặt hàng liên quan khác như toluen, styren, ethylbenzen, cumen, cyclohexane và nhiều alkylbenzen cũng được điều chỉnh về mức thuế 0%, hỗ trợ ngành sản xuất hóa dầu và xăng dầu trong nước.
Thời gian áp dụng: Nghị định có hiệu lực thi hành ngay từ ngày ký – 09/03/2026 và kéo dài đến hết ngày 30/04/2026. Sau thời hạn này, mức thuế suất sẽ tự động trở về quy định cũ tại Nghị định 26/2023/NĐ-CP, trừ trường hợp có nhu cầu cấp bách về phát triển kinh tế – xã hội và ổn định thị trường xăng dầu. Khi đó, Bộ Công Thương sẽ có ý kiến đề xuất gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, trình Chính phủ xem xét ban hành nghị quyết kéo dài thời hạn áp dụng.

Tác động dự kiến:
- Giảm chi phí nhập khẩu cho doanh nghiệp đầu mối → Có thể giúp giá xăng dầu bán lẻ trong nước thấp hơn so với kịch bản không giảm thuế, đặc biệt trong bối cảnh giá dầu thô thế giới biến động mạnh.
- Tăng khả năng đa dạng nguồn cung (từ Nga, Mỹ, châu Phi, Đông Nam Á…) mà không bị ràng buộc bởi chứng nhận xuất xứ.
- Hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, giảm áp lực lạm phát từ nhóm hàng năng lượng – một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến đời sống người dân và sản xuất kinh doanh.
Chính sách này được đánh giá là kịp thời, linh hoạt và phù hợp với tình hình thực tế. Doanh nghiệp đầu mối xăng dầu, các đơn vị sản xuất, kinh doanh liên quan cần theo dõi chặt chẽ hướng dẫn triển khai từ Bộ Tài chính, Bộ Công Thương và Tổng cục Hải quan để áp dụng đúng quy định, đồng thời cập nhật diễn biến thị trường để điều chỉnh kế hoạch nhập khẩu.
